Thứ năm, 10:07, 26/11/2009
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ BRU-NÂY ĐA-RÚT-XA-LAM VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-BRU-NÂY ĐA-RÚT-XA-LAM
BRU-NÂY ĐA-RÚT-XA-LAM (BRUNEI DARUSSALAM)
I. Khái quát chung:
1. Tên chính thức: Bru-nây Đa-rút-sa-lam (Brunei Darussalam, nghĩa là Xứ sở Hoà bình: The Abode of Peace).
Thủ đô: Ban-đa Xê-ri Bê-ga-oan (Bandar Seri Begawan)
2. Địa lý:
- Vị trí địa lý: Gồm hai phần tách rời nhau nằm lọt trong bang Xa-ra-oát (Sarawak) của Ma-lai-xi-a. Trừ phía Bắc giáp biển Đông (161 km bờ biển), ba mặt còn lại có chung biên giới với Đông Ma-lai-xi-a (381 km).
- Thành phố lớn: Ban-đa Xê-ri Bê-ga-oan (Bandar Seri Begawan) (khoảng 100.000 dân).
Cả nước chia làm 4 quận: Bru-nây Mua-ra (Brunei Muara), Tu-tông (Tutong), Be-lết (Belait) và Tem-bu-rông (Temburong).
- Địa hình: vùng bờ biển là đồng bằng, miền núi ở phía đông và vùng đồi thấp ở phía tây.
- Diện tích: 5.769 km2, trong đó 70% là rừng, bờ biển dài 160km, trong đó diện tích vùng nước là 500 km2, diện tích đất liền là 5.269 km2.
- Khí hậu: Nhiệt đới, nóng, ẩm, chỉ có hai mùa mưa và khô (giống miền Nam Việt Nam). Nhiệt độ trung bình từ 24 - 320C.
- Tài nguyên: dầu mỏ, khí tự nhiên, gỗ
3. Dân số: 374.600 người (2007), trong đó người Mã (67%), người Hoa (15%), người bản xứ (6%), các thành phần khác (12%).
4. Ngôn ngữ: Tiếng Ma-lay (chính thức), tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.
5. Tôn giáo chính: Hồi giáo (67%) là quốc đạo, Phật giáo (13%), Thiên chúa giáo (10%), tín ngưỡng bản xứ và tôn giáo khác (10%).
6. Thu nhập bình quân đầu người: 37052 USD/người năm 2008 (số liệu IMF)
7. Thể chế chính trị:
- Ngày Quốc khánh: 23/2/1984
- Thể chế: Quân chủ chuyên chế (Constitutional Sultanate).
Bru-nây theo chế độ quân chủ chuyên chế thế truyền do Quốc Vương đứng đầu. Quốc vương có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp và sửa đổi luật pháp, kể cả Hiến pháp.
Giúp đỡ Quốc vương cai quản đất nước có 5 Hội đồng do Quốc vương chỉ định:
(i) Hội đồng Bộ trưởng Nội các (the Council of Cabinet Ministers)
(ii) Hội đồng Tôn giáo (the Religious Council);
(iii) Hội đồng Cơ mật (the Privy Council);
(iv) Hội đồng Lập pháp (the Legislative Council):
(v) Hội đồng Truyền ngôi (the Council of Succession);
- Hệ thống pháp luật: dựa trên Luật pháp của Anh; đối với người Hồi giáo Luật Hồi giáo Xa-ri-a (Sharia) sẽ được áp dụng thay cho Luật dân sự.
- Nguyên thủ quốc gia: Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a (Sultan Haji Hassanal Bolkiah) lên ngôi từ 05/10/1967 (Quốc Vương thứ 29); là Nguyên thủ quốc gia, kiêm Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, đồng thời là thủ lĩnh Hồi giáo; từ năm 1998 kiêm Bộ trưởng Tài chính.
8. Kinh tế:
Bru-nây có nền kinh tế nhỏ nhưng thịnh vượng do dựa chủ yếu vào xuất khẩu dầu khí và có dân số ít. Chính phủ Bru-nây đã thực hiện nhiều chế độ phúc lợi xã hội như công dân không phải đóng thuế thu nhập; giáo dục, chữa bệnh, ma chay không mất tiền; cấp học bổng cho học sinh giỏi được đi học ở nước ngoài; cho nhân dân vay tiền với lãi suất thấp để kinh doanh, sản xuất hay mua nhà ở với giá rẻ.
Hiện nay, dầu hoả và khí đốt chiếm 80% tổng thu nhập trong nước và 90% thu nhập về xuất khẩu. Với sản lượng khoảng 220.000 thùng dầu/ngày, Bru-nây hiện là nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ ba ở Đông Nam Á, sau In-đô-nê-xi-a và Ma-lay-xi-a. Bru-nây còn là nước sản xuất khí đốt hóa lỏng lớn thứ tư thế giới.
9. Chính sách đối ngoại:
Ngay sau khi dành được độc lập năm 1984, ngoài việc là thành viên khối Thịnh vượng chung và Tổ chức Hồi giáo, Bru-nây đã trở thành thành viên thứ 159 của Liên hiệp quốc, thành viên thứ 6 của ASEAN và là thành viên APEC. Từ 1993, Bru-nây tham gia Phong trào Không Liên kết. Ngày 17/3/2005, Bru-nây trở thành thành viên thứ 191 của UNESCO.
II. Quan hệ với Việt Nam:
1. Về chính trị:
Ngày 15/7/1983, nhân dịp Quốc Vương Bru-nây tuyên bố lấy ngày 23/02/1984 làm Ngày Quốc khánh (tuy ngày tuyên bố độc lập là 1/1/1984), Đại sứ Việt Nam tại Liên hiệp quốc đã là người đầu tiên đến chúc mừng và trao điện của Chính phủ Việt Nam chúc mừng và công nhận Bru-nây độc lập. Thủ đô Banda Seri Begawan cũng là nơi diễn ra lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN (ngày 28/7/1995).
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (29/02/1992), quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Bru-nây phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao và các cấp khác.
2. Về hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại, khoa học-kỹ thuật, văn hoá:
Kim ngạch thương mại hai chiều còn rất nhỏ, đạt khoảng 1,5-2 triệu đô-la Mỹ/năm, chủ yếu Bru-nây nhập từ Việt Nam thông qua nước thứ ba. (Năm 2005, đạt 4,5 triệu USD). Đến hết năm 2008, Bru-nây có 67 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 4,5 tỷ USD, đứng thứ 10 trong tổng số 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và đứng thứ 4 trong ASEAN.
Hàng năm, Bru-nây cấp cho Việt Nam một số học bổng thạc sỹ, đại học và ngắn hạn về một số lĩnh vực như dầu khí, tiếng Anh và bảo dưỡng máy bay.
3. Các hiệp định ký kết giữa hai nước:
- Hiệp định Hợp tác Hàng không (8/11/1991). Tháng 5/2006, Hàng không Hoàng gia Bru-nây đã mở đường bay trực tiếp tới TP Hồ Chí Minh.
- Nhân dịp chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới Bru-nây (12-14/11/2001), hai nước đã ký kết một số văn bản như Hiệp định Thương mại, Hiệp định Hợp tác Hàng hải, Bản ghi nhớ về Hợp tác Du lịch, và Thỏa thuận Hợp tác giữa hai Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Bru-nây.
- Bản ghi nhớ (MOU) về Hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng được ký kết nhân dịp Thứ trưởng Quốc phòng Bru-nây thăm Việt Nam (11/2005).