Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Chọn ngôn ngữ
Tin nhanh |
Chủ nhật, 19:36, 18/10/2009
Y tế

Thế kỷ XIX trở về trước, y học Việt Nam là nền y học cổ truyền Phương Đông, thuốc chữa bệnh chủ yếu là thảo dược. Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp, tây y được đưa vào Việt Nam. Lúc bấy giờ các cơ sở y tế chủ yếu chỉ có ở các thành phố lớn, trong khi ở nông thôn y học cổ truyền vẫn là cách chữa bệnh chủ yếu của hầu hết dân cư sống trong khu vực này.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (tháng 8/1945), một hệ thống cơ sở y tế bắt đầu được xây dựng. Trường Đại học Y khoa đã ra đời ngay tại chiến khu Việt Bắc năm 1949. Trường đại học Y, viện nghiên cứu và các bệnh viện đã sản xuất được một số loại thuốc cơ bản như Pê-nê-xi-lin, thuốc chữa sốt rét… Sau khi thống nhất đất nước (tháng 4/1975), ngành y tế đã phát triển nhanh, đạt nhiều thành tựu trong việc chăm sóc sức khỏe của toàn dân, trong đó có nhiều thành tích và đội ngũ bác sỹ được thế giới biết đến.

Hệ thống y tế công lập hiện giữ vai trò chủ đạo trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và được chia làm 3 tuyến: tuyến Trung ương; tuyến tỉnh và tuyến y tế cơ sở (bao gồm huyện, xã và y tế thôn bản).

Mạng lưới y tế ở Việt Nam:

Bên cạnh hệ thống y tế công, tại Việt Nam đã hình thành mạng lưới y tế tư nhân. Hiện nay có 30.000 phòng khám chữa bệnh tư nhân, 36 bệnh viện tư với 2.538 giường bệnh (tương đương 2% giường bệnh của cả nước) trong đó có 4 bệnh viện có vốn đầu tư của nước ngoài.

Thành tựu y tế: Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, khả năng đáp ứng của hệ thống y tế Việt Nam xếp thứ 51/191 nước; được đánh giá cao hơn so với nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của Việt Nam tốt hơn so với các nước có cùng mức thu nhập. Một số chỉ số cơ bản của Việt Nam tương đương mức của các nước có thu nhập cao gấp 10 lần.  Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 72, cao hơn 10 tuổi so với các nước có thu nhập bình quân tương đương.

Một vài chỉ số về y tế: 13.102 cơ sở y tế, với 184.440 giường bệnh. Bình quân 16.64 giường bệnh quốc lập/10.000 dân; 1 bác sỹ phục vụ 1.700 dân; Thanh toán được bệnh bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2000 và bệnh phong vào năm 2005; Hạn chế được tốc độ gia tăng của HIV/AIDS; Giảm tỷ lệ chết của trẻ em dưới 5 tuổi từ 55%o năm 1995 xuống còn 32,8%o năm 2003; Giảm tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi từ 42%o xuống 21%o; Năm 2003, Việt Nam đã khống chế thành công dịch bệnh SARS; Tỷ lệ chi thường xuyên cho y tế 4,5% ngân sách; Tỷ lệ hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí là 29,28% và hộ nghèo được miễn giảm viện phí là 57,88% (2003).

Ngành dược và hệ thống y dược cổ truyền: Nhà nước Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc cung ứng đầy đủ các loại thuốc có chất lượng cho người dân. Hiện nay Việt Nam có 18 doanh nghiệp dược trung ương; 132 doanh nghiệp dược địa phương; 22 dự án liên doanh sản xuất thuốc. Các cơ sở cung ứng thuốc thiết yếu đã có mặt tại các xã, phường, kể cả vùng sâu, vùng xa, với khoảng 10.317 quầy đại lý thuốc và 9.087 tủ thuốc của trạm y tế.

Công tác nghiên cứu kế thừa và phát huy các bài thuốc, phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền tiếp tục được đẩy mạnh. Các nguồn dược liệu địa phương được sử dụng rộng rãi để chữa trị một số bệnh thông thường và bệnh mãn tính. Hiện nay có 450 cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền với 2.000 chế phẩm đông nam dược. Hàng năm có khoảng 30% bệnh nhân được khám và điều trị bằng y học cổ truyền

 

 
Asean Vietnam 2010
album



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Các đơn vị tài trợ